Phân tích nghệ thuật múa Chăm.

Phân tích nghệ thuật múa Chăm.

Chủ nhật , 17/05/2015, 04:07 GMT+7
     
Phân tích nghệ thuật múa Chăm. Dân tộc Chăm được biết đến với các tên Chàm, Chiêm Thành, Hroi . Nền văn hóa Chăm với nghệ thuật múa Chăm, một Rija Nưgar - lễ hội dân gian mang nhiều yếu tố trình diễn, một khám phá thú vị về họ của người Chăm, một nghệ nhân thổ cẩm Chăm... Và hơn hết là một kho tàng văn học bề thế của người Chăm từ truyền thống đến hiện đại, góp thêm cái nhìn đầy đủ, toàn diện về một nền văn hóa nghệ thuật khá độc đáo nhưng còn nhiều mới mẻ này.

Múa Chăm là một bộ phận quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Chăm. Múa gắn liền với các lễ hội như Rija Nưgar, Katê, Rija Praung... ở mỗi làng hay trên tháp. Đó là những dịp mà người Chăm thể hiện sự tưởng nhớ của mình đối với những người có công xây dựng đất nước, hay sự sùng bái một/một vài vị vua được thần hóa.

Múa dân gian Chăm tuy có nhiều điệu múa khác nhau nhưng nhìn chung có 4 điệu múa chính có mặt xuyên suốt trong nghệ thuật múa. Bốn điệu múa (4 động tác) được người Chăm sử dụng phổ biến là Biyên, Kmân, Mrai, Chron. Sau này những điệu múa trên đã được nâng cao và hình thành nên những điệu múa như Patra, Chaligia. Và cho đến ngày nay là điệu Biyên, điệu Chaligia, điệu Patra, điệu Chron chính là 4 điệu múa được sử dụng nhiều nhất trong múa Chăm. Mỗi điệu múa này có những nét riêng thể hiện đặc trưng theo tên gọi của mình.

Theo truyền thuyết của người Chăm, ngày xưa dưới trần gian đầy rẫy ma quỉ, thú dữ… hoành hành cuộc sống con người. Thiên hoàng Pô Kuk sai con gái là Pô Ina Nưgar xuống trần gian để xây dựng xứ sở Chăm và cho sự sinh tồn của của người Chăm. Bà đã bốc 4 vì tinh tú và cho nở ra 4 con thượng cầm là chim công (Biyên), điểu cầm (Kmân), gà lôi (Mrai), và gà tây (Chron) để cùng các nàng tiên cưỡi xuống trần gian. Khi xuống đây bà đã chỉ cho người Chăm biết trồng dâu nuôi tằm, trồng lúa, dệt vải, dạy nhân dân chống lại thú dữ…tạo nên cảnh quốc thái dân an cho người Chăm. Khi nhìn những con chim bay lượn rất đẹp, người Chăm đã bắt chước các động tác của chim để sáng tạo 4 động tác mang tên 4 loài chim này.

Qua truyền thuyết trên cho thấy, bốn điệu múa được biết đến là Biyên, Chron, Kmân, Mrai. Nhiều người cho rằng đây là 4 điệu múa cơ bản và có mặt trong hầu hết các lễ nghi - lễ hội Chăm. Tuy nhiên qua xác minh và tìm hiểu thì chúng tôi thấy có 4 điệu múa được xem là cơ bản, phổ biến và có mặt trong hầu hết lễ nghi - lễ hội Chăm. Đó là 4 điệu múa: Biyên (điệu múa công), Patra (điệu hoàng tử), Chron (điệu gà tây), Chaligia (điệu quý phái). Đấy là bốn động tác dành riêng cho nữ.

a) Ragăm Biyên (Điệu múa công)

+ Tay: hai tay gần như ở giữa. Khi guộn xoè hai bàn tay đứng, lòng bàn tay ngửa về phía trước, từ từ chuyển giống như đuôi công xoè. Đây là động tác điển hình cho toàn bộ động tác múa dân gian Chăm, trong đó nó biểu hiện quy luật, đặc điểm, tính chất, phong cách của múa Chăm.

Trên cơ sở động tác múa Biyên đã nảy sinh nhiều điệu, động tác múa quạt khác nhau. Mặc dù có sự khác nhau nhưng người xem vẫn bắt gặp quán xuyến và được bộc lộ rất rõ nét. Động tác múa Biyên được xem là có giá trị đặc sắc trong kho tàng nghệ thuật múa dân gian Chăm.

* Sự vận động các động tác múa Biyên:

+ Hai tay cầm quạt xoè căng ra.

+ Hai tay duỗi thẳng để cách hông 10 phân.

+ Tay cầm quạt từ từ nâng lên theo điệu nhạc

+ Bật nhanh xuống và chuyển hướng

+ Động tác đưa tay ra phái trước (gần như là động tác xẩy thóc)

Đối với người Chăm múa luôn gắn liền với nhạc. Khi âm nhạc vang lên thì ở đó có những người múa. Trong múa Biyên có điệu nhạc tương ứng là nhạc trống Biyên.

b) Ragăm Patra (Điệu múa hoàng tử)

Đây là điệu múa để diễ tả hình ảnh của vị hoàng tử trẻ người Chăm gọi là Pô Patra. Động tác múa trong điệu này được biểu diễn như sau:

Tay: hai tay về một bên, một tay ngang vai, một tay ngang đầu. Khi guộn hai tay cùng chiều.

c) Ragăm Chron (Điệu múa gà tây)

Đây là điệu múa được mô phỏng theo hình ảnh của con gà tây. Điệu múa này được biểu diễn như sau:

Tay: tay cao, tay thấp ở hai bên. Khi guộn, đưa hai tay gặp nhau ở giữa gần thắt lưng, đâm thẳng mũi ở hai bàn xuôi hướng đất.

* Nhạc trong điệu múa Chron: cũng được gọi theo tên tương ứng của múa đó là nhạc điệu Chron.

d) Ragăm Chaligia (Điệu quý phái)

Điệu múa quý phái được biểu diễn như sau:

Tay: một tay ở giữa, hai tay thấp, hai tay guộn cùng một lúc rồi chỉ mũi bàn tay xuống hướng đất.

Âm nhạc trong điệu Chaligia còn gọi là điệu Chalitai:

Dù múa với đạo cụ nào cũng sử dụng 4 động tác chủ yếu này, có thể thêm bớt chút ít về giác độ, nhưng vẫn giữ 4 động tác cơ bản mà trở thành quy định.

Chân: đối với nữ thì chỉ có một bước nhún cơ bản. Bước nhún này khi dùng với tiết tấu nhanh, khi dùng với tiết tấu chậm. Bước nhún được cấu tạo bằng sự chuyển dộng của bàn chân bằng cung đoạn với tư thế êm nhẹ. Động tác Chăm hoàn toàn lệ thuộc hoàn toàn vào trang phục của người Chăm với chiếc áo dài phủ kín. Khác với bước nhún trong nghệ thuật múa của một số dân tộc khác, bước nhún của người Chăm thường nhún lên, trong khi ở một số dân tộc khác bước nhún thường là nhún xuống.

Đối với nam: qua tất cả múa nam, chúng ta thấy các thiết kế động tác chẵn và cũng giống như động tác nữ: ( NSND Đặng Hùng, duy trì và phát triển nghệ thuật múa truyền thống…..)

+ Tay: có 4 độngtác:

=>Tay thấp tay cao, luôn luôn lấy cùi chỏ làm góc độ gần như vuông, tạo thế khuỳnh, thoải mái, cởi mở.

=>Hai tay thấp ở hai bên, cùng với tư thế hơi vuông góc bởi cùi chỏ.

=> Hai tay thẳng khỏi đầu.

=>Hai tay thẳng ngang.

+ Chân cũng có 4 động tác:

* Chấm mũi bàn chân. Chấm mũi dựng đứng bàn chân nọ sát vào giữa lòng bàn chân kia.

* Nhấc một chân cao, một chân trụ, một chân nhấc lên với chiều vuông góc của đầu gối, bàn chân nhấc lên không duỗi mu mà dùng sức chống chế ngang.

* Chấm gót chân. Chấm gót chân của bàn chân nọ cách một bàn chân theo hướng chữ đinh.

* Hai chân ngang. Hai chân hạ trụ xuống như thế tấn ngang hai bàn chân ngang, hướng lòng bàn chân về phía trước.

Động tác chân của nam cũng do ảnh hưởng mặc váy nên chưa có những động tác rộng và thiếu những động tác chiều cao.

Tất cả những động tác nam nữ đều gọi theo tên gọi trên cơ sở âm nhạc. Múa của người Chăm được cấu tạo dựa trên tiết tấu, chủ yếu là bộ gõ, với 4 định âm: glèng, dịk, dìng, tơk.

( | ) glèng: dùng dùi đánh vào mặt dương của trống (mặt lớn)

(=) dik: dùng dùi ấn vào mặt dương

(0) tơk: dùng dùng bàn tay vỗ sát vành trống, mặt âm

(__) ding: dùng bàn tay vỗ sâu vào mặt trống đầu âm.

Trong múa dân gian Chăm, trống ginăng đóng vai trò chủ đạo, nó quy định những động tác, nhịp điệu nhanh hay chậm…Vì thế trong bất cứ lễ hội, lễ nghi nào có tiếng trống vang lên là ở đó có múa Chăm.

Múa chăm thuộc loại múa dân gian: Tên gọi các điệu múa Chăm cũng là tên được đặt cho điệu trống Ginang. Có thể kể vài điệu múa tiêu biểu: Biyen, Tiaung (bắt chước dáng con công, trĩ), Patra (hoàng tử), Wah gaiy (chèo thuyền), Mưmơng, Mưrai,... Vũ công bước ra trình diễn: cái phẩy tay, phất quạt, quất roi hay cái chuyển gót chân, khi nhanh khi chậm, khi khoan thai nhẹ nhàng, khi thì hùng hồn mạnh mẽ theo nhịp của tiếng nhạc. Tất cả các điệu múa này vẫn còn tồn tại trong cộng đồng Chăm như một hình thái sinh hoạt lễ hội và theo thời gian, chúng được cách điệu để đưa lên sân khấu.

Múa chăm thuộc múa cung đình: Lấy cảm hứng từ các thao tác của những tác phẩm điêu khắc Champa xưa, ông “giải mã” chúng, rút tỉa tổng hợp được 8 thế tay và 4 thế chân, bên cạnh kết hợp với vài thao tác múa dân gian để thành Múa cung đình Chăm. Các điệu múa này nhiều lần được biểu diễn ở nước ngoài. Bên cạnh vài phản ứng tiêu cực từ phía nhân dân Chăm, như cho các con em Chăm ăn mặc theo kiểu “Apsara” lên biểu diễn tại sân khấu thôn quê, gây phản cảm; còn thì các điệu múa mới mẻ nay đều nhận được sự tán thưởng xứng đáng.

Nguồn: saigongame.com