Phân tích bài thơ Thương Vợ

Thứ tư , 26/11/2014, 06:58 GMT+7
     
Đề bài: Phân tích bài thơ thương vợ của Trần Tế Xương, chắc hẵn ai nhìn vào đề bài cũng thắc mắc, tại sao Trần Tế Xương lại đặt đề bài là Thương Vợ đúng không? Chắc hãn người vợ này ra sao mới được Ông thương như vậy. Nói đến bài thơ ta phải xét đến 2 khía cạnh: trào phúng và trữ tình. Dù nó không trực tiếp ngăn cách nhau nhưng qua 2 khía cạnh này người đọc sẽ hiểu được hình ảnh người vợ mà Trần Tế Xương nói đến.

Thương Vợ của  Trần Tế Xương  nó khái quát được hình ảnh người phụ nữ cũng như người vợ lam lũ, vất vả hi sinh vì chồng vì con. Đáp lại tình yêu thương đó, người chồng đã viết lên nhưng lời thơ thật ý nghĩa nhưng  mang đậm tính nhân văn để nói người vợ của mình.

Mỡ đầu bài thơ Trần Tế Xương đa nói lên hình ảnh người phụ nữa người vợ vô cùng đảm đang

Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Với những hình ảnh lời kể giản dị, nôm na mag người đọc phải suy nghĩ đây là người vợ như thế nào phải không nào? Đó là một hình ảnh người vợ vất vả, lam lũ gánh nặng việc gia đình, lặn lội nơi đầu song bến chợ. Có thể nói đây là hình ảnh đảm đang quên thân mình mà hi sinh vì chồng vì con, lo toan cuộc sống gia đình.

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Đây là câu thơ nói lên số lượng mà người vợ này phải lo, không nhưng năm con mà người chồng bà cũng lo. Trần Tế Xương lận đận trong thi cử, đi thi đến lần thứ tám mới đậu được cái tú tài. Ông học giỏi nhưng phải cái ngông quá, thật ra thái độ ngông của ông là một cách ông phản kháng lại chế độ thi cử lạc lậu, quan trường “ậm ọc” lúc bấy giờ.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Đây là một hình tượng quen thuộc trong văn chương dân gian nới về người phụ nữ lao động ngày xưa: Con cò lặn lội bờ sông… nhưng ông không so sánh mà đồng nhất thân phận bà Tú với thân cò. Tấm thân mảnh dẻ, yếu đuối của bà Tú mà phải chịu dãi nắng dầm sương thì đã là gian nan, tội nghiệp, vậy mà bà còn phải lặn lội sớm trưa. Nghĩa đen của từ này cũng gợi ra đầy đủ cái vất vả, khó nhọc trong nghĩa bóng. Tấm thân cò ấy lại lặn lội trên quãng vắng đường xa. Nói quãng vắng là tự nhiên nổi lên Cái lẻ loi, hiu quạnh, lúc cần không biết nương tựa vào đâu, chưa nói đến những hiểm nguy bất trắc đối với thân gái dặm trường. Eo sèo chi sự nói đi nói lại, có ý bất bình. Đò đông có thể hiểu hai cách: một là đò ngang đã chở đầy người, hai là đò từ các nơi tập hợp lại rất đông. Hiểu cách nào cũng đúng với ý định đặc tả hôi khó nhọc, gian nan trong cảnh kiếm ăn của bà Tú.

Nếu như từ “lặn lội” được đảo ra phía trước chủ ngữ để nhấn mạnh sự vất vả của bà Tú, thì từ “eo sèo” gợi lên âm thanh hỗn tạp của “buổi đò đông”. Hai tình huống đối lập thật hay: “vắng” và “đông”. Người phụ nữ gánh hàng lặn lội trên quãng đường vắng thật là khổ. Mà đến chỗ “đò đông” thì thật là đáng sợ! Nghĩa là nhìn từ phía nào, nhà thơ cũng thương vợ, tình thương thấm thía, cảm động.

 

 Bên cạnh nỗi khổ vật chất còn có nỗi khổ tinh thần. Vì chồng con mà phải lặn lội đường xa quãng vắng, nhưng liệu chồng con có biết cho chăng? Và bà Tú cứ âm thầm lo toan như vậy cho đến hết đời, hết kiếp… số phận bà là vậy.

Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công.

Ở câu thơ tiếp theo, ông lại đưa người vợ của mình vào câu ca dao thành ngữ duyên phận  Một duyên hai nợ âu đành phận. ông Tú mượn tâm tư bà Tú mà suy ngẫm hay đúng ra, ông hoá thân vào bà để cảm thông sâu sắc hơn: lấy chồng như thế này thì cũng là duyên hoặc nợ thôi, số phận đã thế thì cũng đành thế

Ở câu này có nghĩa là có khổ cực bao nhiêu, năm nắng mười mưa cũng phải chịu, phải lo, nào dám quản công. Chẳng còn là chuyện thân nữa, dù là thân cò, mà đã là chuyện phận rồi, chuyện số phận.

Thành ngữ “dầm mưa dãi nắng” được tác giả vận dụng sáng tạo thành “năm nắng mười mưa”. Phải nói những con số trong thơ Tú Xương rất có thần. Ta đã thấm thía với hai số năm – một trong câu thừa đề (Nuôi đủ năm con với một chồng). Giờ đây là sự linh diệu của những con số một – hai và năm – mười trong câu luận. “Một duyên hai nợ” đối với “Năm nắng mười mưa”, cho thấy gian khổ cứ tăng lên, bà Tú chịu đựng hết.

Không dừng lại ở đây, ông đã tự trách bản thân mình, tự chửi mình :

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chổng hờ hững cũng như không.

Vì quá thương vợ mà nhà thơ tự trách mình, trách một cách nặng nề. “Cha mẹ thói đời…” thì đã thành lời xỉ vả mình. Thật ra là một cách ông Tú nhún mình để cho công trạng của bà Tú nổi lên, chứ Tú Xương đâu phải là người “ăn ở bạc”. Ăn chơi sa đà thì có, “hờ hững” nữa, thì nhà thơ đã thành thật nói rồi, chứ bạc tình, bạc nghĩa thì không. Gang thép với cường quyền mà nhũn với vợ như thế thì thật là con người đáng kính.

Bằng tình cảm chân thành, bằng nghệ thuật sống động, Tú Xương đã thể hiện được hình ảnh người phụ nữ giỏi giang, lam lũ, tần tảo nuôi chồng nuôi con. Bà Tú có những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa.

Nguồn: saigongame.com