Giao lưu văn hóa và sự phát triển của văn hóa Việt Nam

Giao lưu văn hóa và sự phát triển của văn hóa Việt Nam

Chủ nhật , 17/05/2015, 03:34 GMT+7
     
Khái quát giao lưu văn hóa, giao lưu văn hóa là gì? Giao lưu văn hóa có ý nghĩa gì đối với nền văn hóa Việt Nam, giao lưu văn hóa và sự phát triển của văn hóa Việt Nam là một trong những vấn đề mà mỗi con người Việt Nam nói chung và những nhà văn hóa nó riêng phải biết. Nền văn hóa của nước ta, ngày càng phát triển nếu mỗi chúng ta biết phát huy, kế thừa được các nền văn hóa. Bên cạnh đó mỗi chúng ta cần giao lưu văn hóa để cho nền văn hóa ngày càng đi lên và sự phát triển hơn.

Giao lưu văn hoá văn hóa là gì? Đây là cáiđầu tiên mà chúng ta cần phải làm rõ, cần khái quát được vấn đề của nó. Giao lưu văn hóa bao hàm trong đó sự chung sống của ít nhất hai nền văn hóa của hai cộng đồng, hai dân tộc, hai đất nước với nhau.

Giao lưu văn hóa và sự phát triển của văn hóa Việt Nam

Giao lưu văn hóa và sự phát triển của văn hóa Việt Nam

Giao lưu đó là một hình thức quan hệ trao đổi văn hóa cùng có lợi, giúp đáp ứng một số nhu cầu không thể tự thỏa mãn của mỗi bên, giúp tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa để từ đó làm nẩy sinh nhiều nhu cầu mới thúc đẩy mỗi nền văn hóa phát triển. Hơn thế nữa, giao lưu văn hóa được coi là một dạng cộng sinh giữa các nền văn hóa.

Ví dụ như những lễ hội, những phiên chợ quê ở đồng bằng hay miền núi Việt Nam đó là những dạng giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng dân cư, qua đó mỗi cộng đồng giới thiệu những hoạt động văn hóa và trao đổi những sản phẩm văn hóa của mình với các cộng đồng khác, giúp thỏa mãn rất nhiều nhu cầu của nhau và thúc đẩy lan tỏa văn minh từ vùng này sang vùng khác.

Bên cạnh đó, thì các lễ hội cổ truyền chủ yếu là để giao lưu các hoạt động văn hóa tinh thần.

Ví dụ như tình cảm, tâm linh, nghệ thuật, du lịch, giải trí...

Và thường được tiến hành ở những địa danh văn hóa - lịch sử, mỗi năm một lần, bắt đầu vào những ngày tháng nhất định theo âm lịch và có thể kéo dài nhiều ngày hoặc nhiều tuần, thu hút từ hàng ngàn đến hàng trăm ngàn người trẩy hội, và rất đa dạng.

Ví dụ như hội chiến thắng Đống Đa Hà Nội, hội chùa Hương Hà Tây và hàng trăm hội chùa ở khắp cả nước, hội thành Cổ Loa Hà Nội, hội voi Buôn Ma Thuột...

Trong các quan hệ giữa các quốc gia dân tộcthì sự giao lưu tiếp xúc với những nền văn hóa bên ngoài người bản địa còn quảng bá được những nét đặc sắc riêng trong nền văn hóa của mình, phát huy được những lợi thế sẵn có của mình trong hợp tác kinh tế quốc tế và làm quen với những yếu tố văn hóa ngoại lai bên cạnh đó còn nhận biết những yếu tố nào trong số đó có ích lợi có thể bổ sung những mặt còn chưa phát triển đầy đủ hoặc chưa có trong nền văn hóa bản địa để sử dụng và những yếu tố nào thì không. Với sự liên kết các nước vào những liên minh như EU hay khối Asean đó chính là một dạng cộng sinh mạnh giữa một số nền văn hóa, vì nó tạo ra những ưu đãi và những lợi thế đặc biệt trong giao lưu văn hóa giữa các nước trong cùng khối, giúp cho toàn bộ văn hóa của mỗi nước phát triển thuận lợi hơn hẳn mà khoogn đem lại bất cứ một sự khó khăn nào về nền văn hóa.

Lợi ích trước mắt mà nền văn hóa thông qua việc giao lưu văn hóa đem lại là xuất nhập khẩu vật chất, năng lượng và thông tin với bên ngoài có thể đáp ứng rất nhanh nhiều nhu cầu bức thiết của mình và giải quyết thuận lợi những khó khăn bức xúc mà nhiều nước đang gặp phải. Nước ta cũng vậy, Nền nông nghiệp từ khi mở cửa hội nhập đã phát triển nhảy vọt nhờ đẩy mạnh xuất khẩu được nhiều mặt hàng nông sản như gạo, tôm, cá da trơn, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, hoa, trái cây, rau củ tươi..., đồng thời nước ta còn nhập khẩu được nhiều vật tư nông nghiệp chưa tự sản xuất được đủ như giống, phân bón, thuốc bảo vệ động thực vật..., từ đó giúp giải quyết rất nhiều việc làm và tăng thu nhập đáng kể cho nông dân, góp phần tạo sự ổn định và tiến bộ xã hội.

Thứ hai, đó chính là lợi ích căn bản và lâu dài mà giao lưu văn hóa đem lại là thúc đẩy sự phát triển của mỗi nền văn hóa. Và Lịch sử đã cho thấy, không một nền văn hóa nào có thể phát triển nhanh hoặc vượt bậc mà không có sự giao lưu với nền văn hóa khác. Giao lưu văn hóa làm cho những cộng đồng, những quốc gia dân tộc đóng kín trở thành những hệ thống mở, đã mở trở nên ngày càng mở hơn. Trên  lý thuyết hệ thống, một hệ thống.vật chất nếu đóng kín sẽ nhanh chóng tiến đến hỗn loạn do không thể trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin cần thiết với bên ngoài để duy trì cấu trúc hoặc những hoạt động chức năng bình thường.

Vì vậy cũng khó thực hiện những hoạt động ứng phó cần thiết trước những tác động bất lợi từ phía thiên nhiên hoặc từ bên ngoài; tính mở của hệ thống vật chất là điều kiện cần để hệ thống đó giữ được ổn định và phát triển. Như vậy giao lưu văn hóa là một nhu cầu bắt buộc cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia dân tộc.

Qua sự giao lưu tiếp xúc với các nền văn hóa bên ngoài những con người của nền văn hóa bản địa thu nhận được nhiều thông tin mới, xử lý những thông tin này giúp họ có được những hiểu biết hoặc tri thức mới, từ đó ở họ nẩy sinh những nhu cầu mới. Những nhu cầu mới này đòi hỏi phải được đáp ứng và do đó làm nẩy sinh tại bản địa những hoạt động văn hóa mới cùng những sản phẩm văn hóa mới để thỏa mãn nhu cầu, điều đó có nghĩa là làm cho văn hóa bản địa phát triển nhanh hơn hẳn. Chẳng hạn, kết quả tiếp xúc với khoa học kỹ thuật phương Tây và những sản phẩm của nền khoa học kỹ thuật này trong lĩnh vực nông nghiệp đã làm nẩy sinh ở các nước nông nghiệp phương Đông, trong đó có Việt Nam và để từ đó nước ta từ một nền công nghiệp nội địa sản xuất những sản phẩm phục vụ nông nghiệp và chế biến nông sản và một ngành khoa học công nghệ nông nghiệp bản địa ra đời và ngày càng lớn mạnh hoàn thiện, làm cho nền nông nghiệp tiến bộ vượt bậc. Sự ổn định và phát triển nhanh chóng của Việt Nam từ khi mở cửa hội nhập là minh chứng rõ ràng cho những lợi ích mà giao lưu văn hóa mang lại.

Qua đây cho thấy: giao lưu văn hóa không gây ra sự đồng hóa văn hóa, điều này lại càng chắc chắn trong trường hợp nền văn hóa bản địa giao lưu đồng thời với nhiều nền văn hóa bên ngoài. Một nền văn hóa bị đồng hóa với nền văn hóa khác nếu sức mạnh bên trong của nó không đủ để thực hiện tiếp biến văn hóa mà chỉ đơn thuần tiếp nhận trong quá trình giao lưu.

 Dân tộc Việt nhờ năng lực tiếp biến lạ kỳ mà trong một ngàn năm Bắc thuộc không hề bị đồng hóa, mặc dù chính quyền cai trị phương Bắc buộc người dân theo luật Hán, áp đặt chữ Hán, đem người Hán đến ở lẫn với người Việt, bắt người Việt theo phong tục tập quán của người Hán...Trong quá trình người Việt tiến vào phía Nam dưới thời chúa Nguyễn, họ ở lẫn với các tộc dân địa phương đứng đầu là người Chăm, tiếp nhận, vay mượn có chọn lọc và thích nghi một cách thoải mái với nhiều yếu tố văn hóa Chăm, chẳng hạn như tiếp thu kỹ thuật làm ghe và cả tên gọi ghe, bàu từ người Chăm, các tục lệ hoặc phương thức thờ cúng, các thần linh của người Chăm, tục ăn gỏi, cách đội khăn, chôn cất người chết trong huyệt theo kiểu người Chăm2... Những điều này giúp cho người Việt thích ứng tốt với điều kiện địa phương, nhưng không hề làm thay đổi bản sắc văn hóa của mình.

Nguồn: saigongame.com



giao luu van hoa ke thua van hoa tiep bien van hoa